Căn cứ Nghị định 86/2024/NĐ-CP về mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro, việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và trường hợp tổ chức tín dụng phân bổ lãi phải thu phải thoái.
Căn cứ Thông tư 31/2024/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Căn cứ Thông tư 49/2014/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 16/2007/QĐ-NHNN ngày 18/4/2007 và hệ thống tài khoản kế toán các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 479/2004/QĐ-NHNN ngày 29/4/2004 của thống đốc ngân hàng nhà nước.
Căn cứ Thông tư 27/2021/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của hệ thống tài khoản kế toán các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 479/2004/QĐ-NHNN ngày 29/4/2004 và chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 16/2007/QĐ-NHNN ngày 18/4/2007 của thống đốc ngân hàng nhà nước việt nam
Căn cứ Công văn 14/CV-KTTC về hướng dẫn hạch toán trích lập và sử dụng các khoản dự phòng trong chi phí của tổ chức tín dụng.
Có thể tóm tắt cách xác định nợ xấu và trích lập dự phòng như sau:
1. Xác định nợ xấu
Phương pháp xác định số trích lập dự phòng được tôi trình bày tại đây: https://vfin.vn/tim-hieu-ve-rui-ro-tin-dung-ngan-hang-trich-lap-va-xu-ly-quy-du-phong/. Một số thông tin đã được cập nhật tại Nghị định 86/2024/NĐ-CP và Thông tư 31/2024/TT-NHNN, nhưng cơ bản phương pháp thì vẫn giữ nguyên.
Việc xác định số tiền cần trích lập cũng đã được trình bày cụ thể tại đây: https://vfin.vn/ty-le-bao-phu-no-xau-la-gi/. Nhìn chung hai bài viết trên đã giúp mọi người hiểu rõ cách xác định nợ xấu, số tiền cần trích lập dự phòng trong kỳ đối với các khoảng cho vay khách hàng của TCTD & Với các khoản mục khác cũng tương tự.
2. Hạch toán trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Theo hướng dẫn tại các văn bản kể trên, tôi xin trình bày ngắn gọn việc hạch toán dự phòng rủi ro tín dụng của TCTD, còn hạch toán dự phòng với các khoản khác các bạn có thể đọc tham khảo thêm. Các bước thực hiện như sau:
– Trường hợp trích lập dự phòng (lần đầu hoặc bổ sung khi số dự phòng phải trích > số dư hiện có): Tổ chức tín dụng phải trích đủ số tiền dự phòng cụ thể (dựa trên nhóm nợ) và dự phòng chung (0.75% dư nợ nhóm 1-2) theo quy định vào chi phí, hạch toán:
Nợ TK 701 “Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng”
Có TK 229 “Dự phòng rủi ro tín dụng”
– Trường hợp hoàn nhập dự phòng (khi số dự phòng phải trích < số dư hiện có, hoặc thu hồi nợ xấu): Tổ chức tín dụng so sánh số dự phòng phải trích kỳ này với số dư hiện có trên TK 229 và hoàn nhập số chênh lệch thừa (hoặc do thu hồi nợ, cải thiện phân loại nợ, điều chỉnh ECL), hạch toán:
Nợ TK 229 “Dự phòng rủi ro tín dụng”
Có TK 702 “Thu nhập từ hoàn nhập dự phòng rủi ro tín dụng”
– Lưu ý hạch toán:
- Nợ TK 701 và Có TK 702 sẽ ghi nhận lên báo cáo kết quả kinh doanh (P&L), làm thay đổi lợi nhuận trong kỳ.
- Có/Nợ TK 229 sẽ làm thay đổi “Dự phòng rủi ro tín dụng” và ghi nhận trên bảng cân đối tài sản (BS, như khoản giảm trừ dư nợ cho vay khách hàng).
– Nếu sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro (đưa nợ nhóm 5 ra ngoài bảng), căn cứ Điều 11, Nghị định 86/2024/NĐ-CP:
Nợ TK 229 – Dự phòng rủi ro tín dụng
Có TK 491 – Nợ xấu khó đòi đã xử lý (ngoại bảng)
3. Ý nghĩa của việc dùng dự phòng để xử lý nợ xấu ra ngoại bảng
Việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro và đưa nợ nhóm 5 ra ngoài bảng (qua bút toán Nợ TK 229 / Có TK 491) sẽ làm thay đổi nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu (NPL ratio) trên báo cáo của ngân hàng. Đây là một trong những mục đích chính của nghiệp vụ này.
– Trước khi đưa ra ngoại bảng, nợ nhóm 5 vẫn nằm trong dư nợ cho vay khách hàng trên bảng cân đối và được tính vào nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu.
– Sau khi đưa ra ngoại bảng, nợ nhóm 5 giảm, nên sẽ khiến tổng nợ xấu giảm và tỷ lệ nợ xấu giảm theo.
Đây là cách các ngân hàng thường áp dụng để giảm nợ xấu, giúp duy trì báo cáo NPL thấp, đáp ứng yêu cầu giám sát của NHNN và cải thiện chỉ số an toàn vốn (CAR). Trong một số trường hợp, ngân hàng chuyển nợ xấu cho VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam) để xử lý, thường bằng cách nhận trái phiếu đặc biệt thay vì tiền mặt, giúp đưa nợ ra ngoài bảng mà không ảnh hưởng dòng tiền. Việc chuyển cho VAMC không phụ thuộc vào việc thiếu dự phòng (vì dự phòng đã trích đủ 100% cho nợ nhóm 5), mà chủ yếu nhằm mục tiêu làm đẹp chỉ số nợ xấu và tối ưu hóa báo cáo tài chính.
Nguồn: Lão Trịnh


